Archive | January 2012

CURRICULUM VITAE OF NGUYỄN HỮU TRUNG

CURRICULUM VITAE OF

NGUYỄN HỮU TRUNG

 

PERSONAL DETAILS

Date of Birth: 12 October 1993

Address: 29/31 Nguyễn Du, Phan Rang-Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận

Mobile: +8401279012790

Email: trung_nh93@yahoo.com.vn

Marital status: Single

 

EDUCATION

2011-2016 UNIVERSITY OF SCIENCE HO CHI MINH CITY

• Bachelor of Information Technology talent

QUALIFICATIONS

2004 Computer Skills :

• MS Word

• Excel

• MS Powerpoint

• Website design

• programming C\C++.

 

LANGUAGE SKILLS

• English: Advanced level General English and Conversation. In addition, I have regular contact with foreign visitors in my voluntary work, which requires frequent use of spoken English.

• Japanese: i am learning

 

EMPLOYMENT HISTORY

……………………………………………………………………………………………………………………………………

…………………………………………………………………………………………………………………………………..

VOLUNTARY WORK EXPERIENCE

……………………………………………………………………………………………………………………………………

…………………………………………………………………………………………………………………………………..

PERSONAL PROFILE

 

• Enthusiastic, open minded, caring and resourceful. I’m optimistic, have a good sense of humour and get on easily with people of all ages and backgrounds.

• I intend to return to university for graduate studies and will continue to study high school education

• And I wish to make in large software companies such as Group microsoft.Do is my wish to not waste the effort I spent learning

 

OTHER ACHIEVEMENTS & INTERESTS

• Playing the guitar

• Badminton

 

REFEREES

……………………………………………………………………………………………………………………………………

…………………………………………………………………………………………………………………………………..

 

QUY TRÌNH DỊCH CHƯƠNG TRÌNH

I/ ĐỊNH NGHĨA

Quy trình dịch là quá trình chuyển đổi từ ngôn ngữ bậc cao(C/C++, Pascal, Java, C#,..) sang ngôn ngữ đích (ngôn ngữ máy) để máy tính có thể hiểu và thực thi.

II/ HOẠT ĐỘNG

Một quy trình dịch gồm ba giai đoạn:

– Giai đoạn tiền xử lý(preprocessing)

– Giai đoạn dịch(compiling)

– Giai đoạn liên kết(linking)

1/ Giai đoạn tiền xử lí:

Giai đoạn tiền xử lí (preprocessing) thực hiện:

+Nhận mã nguồn

+Xoá bỏ tất cả chú thích của chương trình

+Chỉ thị tiền xử lí (bắt đầu bằng #) cũng được xử lí

Ví dụ:  Chỉ thị #include cho phép ghép thêm mã chương trình của một tệp tiêu đề vào mã nguồn cần dịch. Các hằng số được định nghĩa bằng #define sẽ được thay thế bằng giá trị cụ thể tại mỗi nơi sử dụng trong chương trình.

2/ Giai đoạn dịch:

Gồm 2 công đoạn:

Công đoạn dịch NNBC:

+Phân tích cú pháp của mã nguồn NNBC

+Chuyển chúng sang dạng mã Assemly là môt ngôn ngữ bậc thấp gần với tập lệnh của bộ vi xử lí.

Công đoạn dịch Assembly:

+Dịch chương trình => mã máy.

+Một tệp mã máy (.obj) sinh ra trong hệ thống sau đó.

3/ Giai đoạn liên kết:

Trong giai đoạn này mã máy của một chương trình dịch từ nhiều nguồn khác nhau được liên kết lại với nhau để tạo thành chương trình đích duy nhất.

Mã máy của các hàm thư viện gọi trong chương trình cũng được đưa vào chương trình cuối trong giai đoạn này.

III/ Phân tích chương trình nguồn

Sự phân tích chương trình nguồn của trình biên dịch bao gồm nhiều pha. Các pha theo lý thuyết ngôn ngữ là:

Phântíchtừvựng:

+Chia nhỏ các dòng mã nguồn -> thẻ khóa

+Mỗi thẻ khóa đại diện cho cho một đơn vị không thể chia nhỏ của ngôn ngữ.

Thí dụ: một từ khóa, một kí hiệu nhận dạng hay một tên kí hiệu. Các thẻ khoá nhận biết bằng máy hữu hạn trạng thi.

Phântíchcúpháp: Nhận diện các cấu trúc cú pháp của mã nguồn. Nó chỉ tập trung lên cấu trúc. Nói cách khác, nó nhận diện trật tự sắp xếp của các thẻ khóa và hiểu cấu trúc thứ bậc trong bộ mã.

Phântích ý nghĩa: Dùng để nhận biết ý nghĩa của chương trình (mã nguồn) và bắt đầu chuẩn bị cho ra kết quả. Trong pha này, sự kiểm tra về kiểu được hoàn tất và hầu hết các lỗi dịch được nêu ra.

Biểutrưngtrunggian:

Đây là một dạng tương đương của chương trình nguyên thủy đã được chuyển thành và gọi là biểu trưng trung gian. Biểu trưng này có thể là một cấu trúc dữ liệu (thường là dạng cây hay dạng biểu đồ hay một dạng ngôn ngữ trung gian.)

IV/ Ý nghĩa

Vấn đề ở đây là tại sao ta lại có 3 giai đoạn dich chương trình mà không hợp thành 1 giai đoạn duy nhất gồm cả Preprocessing Compiling và liking?

Thứ nhất, Việc giữ chức năng riêng biệt sẽ làm giảm sự phức tạp của trình dịch.

Thứ hai, Một lợi thế rõ ràng hơn rằng: Điều này cho phép tạo ra các chương trình lớn mà không cần phải làm lại các bước biên dịch mỗi lần một tập tin được thay đổi.

Thứ ba, điều này sẽ làm đơn giản việc thực hiện các thư viện mã nguồn trước khi biên dịch: chỉ cần tạo các object file và liên kết chúng giống như bất kỳ tập object file khác.

Việc thực thi như vậy được gọi là ” mô hình thực thi riêng biệt”.

Cuối cùng, ta dễ dàng tìm kiếm lỗi hơn và sửa chữa chúng:

•Trong giai đoạn dịch, các lỗi cú pháp chương trình sẽ được phát hiện và thông báo cho người sử dụng.
•Trong giai đoạn liên kết lỗi liên quan đến việc gọi hàm hay sử dụng biến tổng thể mà không tồn tại sẽ bị phát hiện. Kể cả lỗi viết chương trình chính không có hàm main() cũng được phát hiện.

V/ Dịch trong Command Line

Để biên dịch một file *.c hay *.cpp bằng cửa sổ Command Line, ta sẽ sử dụng Visual studio command Prompt:

Chọn “Start”, chọn vào thư mục “Visual studio 2010”(hay 2008, 2005), chon vào “Visual studio tools” thì sẽ thấy có chương trình “Visual studio command Prompt”.

1./ Biên dịch (bao gồm cả Preprocessing Compiling và Linking):

-Gõ lệnh như sau:

cl *.c (hay *.cpp) với * là tên mã nguồn chương trình cần biên dịch rồi press enter.

Vd: File mã nguồn tên là: hello.c

Cú pháp:  cl hello.c

2./ Chạy tiền xử lý, dịch và liên kết riêng rẽ:

Gõ lệnh như sau:

Preprocessing: cl /E *.c (hay *.cpp)

Compiling:  cl /c *.c (hay *.cpp)

Linking: link *.obj

Với * là tên mã nguồn chương trình cần biên dịch hay đối tượng cần liên kết rồi press enter. Nếu có nhiều file ta gõ tên các file liên tiếp, cách nhau 1 dấu cách.

Ví dụ: Với chương gồm có Main.cpp, tong.cpp,Tong.h. Ta thực hiện quá trình dịch và liên kết như sau:

Sơ bộ về unix

A – LỊCH SỬ VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA HỆ ĐIỀU HÀNH UNIX

UNIX hay UNICS là một hệ điều hành máy tínhviết vào những năm 1960 và 1970 do một số nhân viên của công ty AT&T Bell Labs bao gồmKen ThompsonDennis Ritchie và Douglas McIlroy.

Vì Bell Laboratories bị cấm không cho phép tiếp thị Unix vì lệnh chống độc quyền đối với AT & T nên Unix đã được cung cấp miễn phí cho các trường đại học trên toàn Bắc Mỹ từ năm 1976.

Năm 1979 Đại học California tại Berkeley đã xây dựng một phiên bản của Unix dùng cho các máy tínhVAX. Sau khi đã được ưa thích trong các lĩnh vực công nghệ, AT & T đã giành được quyền tiếp thị đối với Unix và đã cho ra đời System V vào năm 1983. Cho đên nay Unix vẫn được sử dụng rất rộng rãi trong thị trường dành cho máy chủ. Đã có nhiều phiên bản phát triển khác nhau, trong đó có Linux.

Unix là một trong những hệ điều hành 64 bit đầu tiên. Hiện nay Unix được sử dụng bởi nhiều công ty tập đoàn lớn trên thế giới vì mức độ bảo mật của nó tương đối cao.

Năm 1969:(khởi đầuUNIX) UNIX bắt nguồn từ một đề án nghiên cứu trong Bell Labs của AT&T vào năm 1969. Lúc đó Ken Thomson, Dennis Ritchie và những người khác nữa làm ra trên máy PDP-7 (bây giờ gọi là UNIX). Chữ UNIX ban đầu viết là Unics là một kiểu chơi chữ của các tác giả khi so sánh sản phẩm của họ với hệ điều hành Multics lúc bấy giờ. Unics là chữ viết tắt của Uniplexed Information and Computing System.

Trong 10 năm đầu, việc phát triển UNIX giới hạn bên trong Bell Labs là chính. Những version trong thời gian này được gọi là Version n (Vn) và được chạy trên PDP-11 (16-bit) rồi kế đó là VAX (32-bit).

Năm 1973, V4 được viết bằng C. Đây là sự kiện đáng chú ý nhất trong lịch sử hệ điều hành này vì nó làm cho UNIX có thể được chuyển sang các hardware mới trong vòng vài tháng.

Năm 1976, V6 là version đầu tiên được phát hành ra ngoài Bell Labs và được phát miễn phí cho các trường đại học.

Ba năm sau, 1979, V7 được phát hành rộng rãi với giá $100 cho các trường đại học và $21000 cho những thành phần khác. V7 là version căn bản cho các version sau này của UNIX.

Sau khi phát hành V7, AT&T lập ra UNIX Support Group (USG) để khai thác UNIX như là một sản phẩm thương mại. Sau này USG đổi thành UNIX System Laboratories (USL). Bell Labs và USL cùng tiếp tục phát triển UNIX

Từ năm 1977, Computer Systems Research Group (CSRG) của trường đại học California, Berkeley được quyền sử dụng code của UNIX để phát triển ra nhãn hiệu UNIX khác là BSD (Berkeley Software Distribution). BSD phát triển từ version 1 đến version cuối cùng 4.4 năm 1992.

Khi AT&T bắt đầu khai thác UNIX như sản phẩm thương mại thì tiền bản quyền UNIX tăng lên nhanh chóng làm cho Berkeley phải đặt kế hoạch thay source code của AT&T bằng code riêng. Việc này tốn rất nhiều thời gian và không kịp hoàn thành khi Berkeley bị ngưng tài trợ nghiên cứu hệ điều hành, CSRG giải tán.

BSD UNIX và AT&T UNIX là hai dòng chính của UNIX. BSD giúp cho UNIX trở nên phổ biến và có nhiều đóng góp về mặt kỹ thuật như: csh, termcap, curses, vi, TCP/IP socket, long file name, symbolic link.

-Workstation Trong những năm 80, các hãng khác (chủ yếu là các hãng chế tạo workstation) cũng thực hiện các UNIX của riêng họ dựa vào bản quyền của AT&T. Đó là Sun với SunOS, DEC với Ultrix, HP với HP-UX, IBM với AIX, Silicon Graphics với IRIX, Microsoft với Xenix, SCO với SCO-Xenix, SCO-UNIX. Năm 1985 Sun giới thiệu NFS.

-Free UNIX Ngoài ra còn có những bản UNIX không cần license chạy trên PC, trong đó thường gặp nhất là Linux. Linux nguyên thủy được viết bởi Linus Torvalds ở Helsinski, bây giờ được phát triển tiếp bởi một cộng đồng rất đông.

Một bản UNIX free khác là FreeBSD, bắt nguồn từ BSD.

Các version khác nhau của UNIX làm cho UNIX trở nên không thống nhất. Do đó, các tiêu chuẩn được hình thành để phần nào chuẩn hoá UNIX. Các tiêu chuẩn đó thường là do một nhóm các hãng liên minh lại đặt ra, ví dụ OSF, X/Open. IEEE đưa ra POSIX (Portable Operating System Interface). Sau khi tham gia OSF, DEC ngừng phát triển Ultrix, chỉ làm ra UNIX theo tiêu chuẩn OSF/1 của OSF.

Năm 1992, AT&T bán quyền khai thác UNIX cho Novell. Novell được quyền thu tiền bản quyền trên mỗi bản UNIX của các hãng khác bán ra. Novell phát hành sản phẩm UNIX tên là UnixWare. Cuối năm 1993, Novell nhường quyền khai thác nhãn hiệu UNIX lại cho X/Open. UnixWare được bán lại cho SCO.

B – SO SÁNH GIỮA UNIX VÀ WINDOW SERVER.

  1. 1.      Tổng chi phí triển khai và sử dụng.
    1. Unix.

Chi phí để triển khai rất cao, giá cả cho phần mềm và chi phí thuê đội ngũ quản lí unix rất lớn, nhưng ngược lại hiệu quả mang lại không cao khi kết quả đánh giá về hiệu năng của unix của những phiên bản mới nhất đều thấp  hơn window server.

  1. Window server.

Chi phí xây dựng và triển khai rẻ hơn đáp ứng nhu cầu thương mại cho nhiều đối tượng, đa số ứng dụng trên nền tảng của Microsoft.

  1. 2.      Những ứng dụng quan trọng.
    1. Unix.

–         Hoạt động ổn định và tính bảo mật tin cậy cho hầu hết các môi trường doanh nghiệp cực lớn, tuy nhiên đó thường là nền tảng cũ, khó khăn với những người ít kinh nghiệm.

–         Phần cứng hạn chế là một trong những nguyên nhân khiến unix không được sử dụng rộng rãi.

–         Phần mềm ứng dụng cũng rất hạn chế, đa số là các ứng dụng lớn và có tính chuyên việt cao.

  1. Window server.

–         Đáp ứng nhu cầu doanh nghiệp vì trọng tâm phát triển của window server là các doanh nghiệp có qui mô từ nhỏ đến lớn.

–         Nề tảng phần cứng được hỗ trợ rất nhiều.

–         Những hệ thống từ nhỏ đến lớn của Microsoft hoàn toàn đáp ứng được yêu cầu giảm đến mức tối thiểu về chi phí xây dựng hệ thống.

–         Tuy nhiên, những hệ thống cực lớn thì khả năng hoạt động tin cậy vẫn chưa bằng unix.

  1. 3.      Đối tác và sự lựa chọn của khách hàng.
    1. Unix.

–         Rất ít các nhà chuyên nghiệp sử dụng unix để đưa vào giảng dạy, đối tượng chủ yếu là các nhà nghiên cứu và thường họ phải trả một khoản tiền rất lớn.

–         Các hãng phần mềm và đối tác cũng ít, việc tung unix ra thị trường gặp nhiều khó khăn.

  1. Window server.

Microsoft cung cấp nhiều lựa chọn cho nền tảng máy chủ:

–         Hàng chục nghìn ứng dụng.

–         750.000 đối tác trên khắp thế giới.

–         Có hơn 450.000 kĩ sư trên nền tảng Microsoft.

–         Có hơn 6 triệu nhà phát triển.

–         Một hãng sản xuất phần mềm độc lập lớn nhất thế giới.

  1. 1.      Tương lai.

a. Unix.

Công nghệ cũ, không được nâng cấp sau thời gian sử dụng rất lâu, trong tương lai sẽ không còn đáp ứng nổi nhu cầu phức tạp của thương mại.

  1. Window server.

–         Phát triển rất nhanh, luôn đáp ứng yêu cầu mới nhất là trong thương mại, cập nhật liên tục các phiên bản và thường xuyên nâng cấp.

–         Đặc biệt window server ngày càng có các tính năng và độ ổn định trong làm việc, quản lí tài nguyên giống unix, nhưng việc quản trị và quản lí lại đơn giản đi rất nhiều.

Thiết bị lưu trữ thông tin

1-Tape drive (ổ băng)

Là một thiết bị có khả năng lưu trữ dữ liệu và viết dữ liệu lên băng từ. Khi lưu trữ một lượng thông lớn dữ liệu thì ổ băng có thể rẻ hơn ổ cứng nhiều lần. Một ổ băng thường có dung lượng từ vài MB đến vài trăm GB. Tốc độ truyền tải dữ liệu khá cao (có thể đạt 140MB/s)

Ổ băng có nhiều nhược điểm:

  • Không như ổ cứng – có thể truy cập dữ liệu ngẫu nhiên (random access) – ổ băng chỉ cho phép truy cập dữ liệu tuần tự(sequential access). Vì vậy thời gian tìm kiếm (dữ liệu) ổ băng khá chậm.
  • Độ tin cậy thấp: theo khảo sát cho thấy 10%-50% việc phục hồi dữ liệu bằng ổ băng thất bại; 34% số công ty được khảo sát không bao giờ thử nghiệm sao lưu trên ổ băng, 64% còn lại cho biết 77% số sao lưu thất bại.
  • Hiệu ứng shoe-shining:xảy ra trong qua trình đọc hoặc chép dữ liệu,khi tốc độ chuyển tải dữ liệu xuống thấp hơn mức tối thiểu cho phép của ổ băng thì ổ băng phải giảm tốc độ và dừng lại hoàn toàn, sau đó quay lại vị trí bắt đầu giảm tốc và ghi lại tại vị trí đó. Việc lùi và tới này sẽ làm giảm tốc độ chuyền tải tối đa cũng như thời gian sống của băng và ổ băng.

Ổ băng có thể kết nối với máy tính bằng USB, SATA,SCSI…

2- Tape library (tape silo, tape robot, tape jukebox)

Tape library bao gồm nhiều ổ băng được quản lý bởi một cơ cấu tự động (robot). Mỗi ổ băng được xác định bởi một mã vạch.

Tape library có dung lượng rất lớn (hiện tại từ 20 Terabytes đến 366 Petabytes, gấp 700.000 lần dung lượng ổ cứng thông thường). Đây là ưu điểm cũng là nhược điểm: vì dung lượng lớn nên việc truy cập dữ liệu lâu. Do đó tape library chỉ dùng để sao lưu(backup) dữ liệu.

Tape library có giá từ 10.000$ đến 200.000$. Giá tiền như vậy là không hề cao vì mỗi GB chỉ khoảng 10 cent hoặc ít nhất cũng rẻ hơn ổ cứng 60% với cùng dung lượng.

3- Ổ quang từ (magnecto-optical drive)

Là loại ổ quang có khả năng ghi dữ liệu lên đĩa quang từ. Mặc dù là ổ quang nhưng luôn được hệ điều hành hiển thị như ổ cứng thông thường. Ổ quang không cần filesystem chuyên biệt và có thể định dạng FAT, NTFS, HPFS (high performance file system)

Trong quá trình đọc/ghi không có bất cứ sự tiếp xúc vật lý nào. Bình thường thời gian ghi dữ liệu lâu hơn thời gian đọc 3 lần. Vì ghi phải qua 3 công đoạn: xóa,ghi và kiểm tra. Khác với CD-R và DVD-R, việc ghi và kiểm tra tiến hành song song,nếu có lỗi sẽ báo hệ điều hành lập tức. Vì vậy ổ quang từ có độ tin cậy rất cao.

Loại ổ 130mm có dung lượng 650MB – 9.2GB. Dung lượng của ổ chia thành 2 nửa, mỗi nửa ở một mặt.  Ổ 130mm luôn là SCSI. Ổ 90mm có các định dạng SCSI, IDE (intergrated device electronics) và USB. Dung lượng 128 MB – 2.3GB. Ổ quang được dùng chủ yếu để lưu các tài liệu hợp pháp và tạo ảnh y khoa.

4-Memory stick

Là một loại card nhớ Flash memory do SONY thiết kế cho các thiết bị dụng cụ kỹ thuật số cầm tay (handheld digital appliances) như máy chụp hình hoặc máy quay phim xách tay (camera và camcorder).

Nó được giới thiệu vào năm 1998 với dung lượng ban đầu là 4MB và 8MB, các module bé xíu có kích thước 1×2 inch và có độ dày khoảng 1/10 inch (0.85 x 1.97 x 0.11 inch). Để truyền dữ liệu (hình ảnh) vào máy tính từ Memory Stick, người ta sử dụng một bộ chuyển dạng PC Card, ổ đọc Memory stick (Memory Stick drive) hoặc bằng cách nối cáp trực tiếp từ máy camera vào cổng USB của máy tính.

5-USB

USB(Universal Serial Bus) là một chuẩn kết nối tuần tự trong máy tính. USB sử dụng để kết nối các thiết bị ngoại vi với máy tính, chúng thường được thiết kế dưới dạng các đầu cắm cho các thiết bị tuân theo chuẩn cắm-là-chạy (plug-and-play) mà với tính năng gắn nóng (hot swapping) thiết bị (cắm và ngắt các thiết bị không cần phải khởi động lại hệ thống).

Quy trình làm việc của USB Khi một máy tính được cấp nguồn, nó truy vấn tất cả thiết bị được kết nối vào đường truyền và gán mỗi thiết bị một địa chỉ. Quy trình này được gọi là liệt kê – những thiết bị được liệt kê khi kết nối vào đường truyền.

USB có những đặc trưng sau đây:

Mở rộng tới 127 thiết bị có thể kết nối cùng vào một máy tính trên một cổng USB duy nhất (bao gồm các hub USB)

ü  Với USB 2.0 (tốc độ cao), đường truyền đạt tốc độ tối đa đến 480 Mbps.

ü  Cáp USB gồm hai sợi nguồn (+5V và dây chung GND) cùng một cặp gồm hai sợi dây xoắn để mang dữ liệu…

6-Thẻ nhớ

Là một dạng bộ nhớ mở rộng của các thiết bị số cầm tay (Các thiết bị số cầm tay bao gồm: PocketPC, SmartPhone, Điện thoại di động, Thiết bị giải trí số di động, Máy ảnh số, Máy quay số…). Thẻ nhớ sử dụng công nghệ flash để ghi dữ liệu. Thẻ nhớ thường có kích thước khá nhỏ nên thường sử dụng cho các thiết bị số cầm tay.

Máy tính chỉ có thể đọc dữ liệu của thẻ nhớ thông qua các Đầu đọc thẻ (Tiếng Anh: Card Reader). Đa số các đầu đọc thẻ hiện nay thường gắn ngoài máy tính và giao tiếp thông qua các cổng USB. Một số máy tính xách tay được tích hợp sẵn Đầu đọc thẻ. Ở một dạng khác, đầu đọc thẻ được gắn sẵn vào thiết bị mở rộng các ngõ giao tiếp phía trước thùng máy tính cùng với các giắc cắm đầu ra âm thanh, USB, IEEE-1394…(lắp tại khoang gắn CDROM)

7-Compact Flash Card

Compact Flash (CF) card là một loại flash memory (bộ nhớ flash) thường được dùng cho máy ảnh số (digital camera), ĐTDĐ và các thiết bị di động kỹ thuật số khác. Được sản xuất lần đầu tiên vào năm 1994 từ SanDisk. Nó là một miếng plastic hình chữ nhật, bao gồm 2 loại: Compact Flash I dày 3mm, Compact Flash II dày 5 mm. Compact Flash I cũng có thể được sử dụng trong khe cắm Compact Flash II.

Tốc độ của CF được chia làm 4 cấp bậc:

– CF 1.0

– CF+ (hay CF 2.0), tốc độ truyền tải dữ liệu 16MB/s

– CF 3.0 có tốc độ truyền tải dữ liệu 66MB/s và một số loại được tích hợp các công nghệ từ các hãng sản xuất riêng biệt thì có tính năng và tốc độ khác.

– CF 4.0: đây là chuẩn mới nhất đạt tốc độ khá cao, hỗ trợ IDE Ultra DMA 133 với tốc độ 133MB/s.

Thẻ nhớ Compact Flash rẻ về giá thành, có dung lượng lớn, tương thích với mọi đầu đọc thẻ nhớ (Memory reader) và có độ bền, ổn định cao trong sử dụng. Hiện nay, dung lượng Compact Flash card đã được hãng Lexar nâng lên mức 4GB cho cả 2 loại I và II, SanDisk thì có dòng sản phẩm Extreme III dung lượng lên đến 16GB. Tuy nhiên, cần phải xem thiết bị của bạn có phù hợp để sử dụng mức dung lượng nào.

8-Ổ đĩa cứng

a)     Khái niệm: (Hard Disk Drive, viết tắt: HDD) là thiết bị máy tính dùng để lưu trữ dữ liệu trên bề mặt các tấm đĩa hình tròn phủ vật liệu từ tính.

b)     Đặc điểm:

-Ổ đĩa cứng là loại bộ nhớ “không thay đổi” có nghĩa là chúng không bị mất dữ liệu khi ngừng cung cấp nguồn điện cho chúng.

Dữ liệu bị mất do yếu tố hư hỏng phần cứng của ổ đĩa cứng thường rất khó lấy lại được.

c)Cấu tạo:

– Cụm đĩa: Bao gồm toàn bộ các đĩa, trục quay và động cơ.

– Cụm đầu đọc, Cụm mạch điện (Mạch điều khiển, Mạch xử lý dữ liệu, Bộ nhớ đệm, Đầu cắm nguồn cung cấp điện cho ổ đĩa cứng, Đầu kết nối giao tiếp với máy tính) .

-Các cầu đấu jumper: Lựa chọn chế độ làm việc, thứ tự trên các kênh trên giao tiếp IDE.

 

d)     Hoạt động: Việc thực hiện giao tiếp với máy tính do bo mạch của ổ đĩa cứng đảm nhiệm, cơ chế đọc và ghi dữ liệu ở ổ đĩa cứng không đơn thuần thực hiện từ theo tuần tự mà chúng có thể truy cập và ghi dữ liệu ngẫu nhiên tại bất kỳ điểm nào trên bề mặt đĩa từ

3.Cấu tạo: 

1-Tab bảo vệ ghi (Write-protect tab)

2-Moayo (Hub)

3-Lá chắn sáng (shutter)

4-Vỏ bọc nhựa (Plastic housing)

5-Vòng giấy (paper ring)

6-Đĩa từ (Magnetic disk)

7-Cung từ đĩa(disk sector)

4.Sử dụng:

      – Ngày nay đĩa mềm thường ít được sử dụng bởi chúng có nhược điểm: kích thước lớn, dung lượng lưu trữ thấp và dễ bị hư hỏng theo thời gian bởi các yếu tố môi trường. Các loại thẻ nhớ giao tiếp qua cổng USB và các thiết bị lưu trữ bằng quang học (đĩa CD, DVD…) đang thay thế cho đĩa mềm. Chúng khắc phục được các nhược điểm của đĩa mềm và đặc biệt là có thể có dung lượng rất lớn (đến năm 2007 đã xuất hiện các thẻ nhớ dung lượng hơn 10 GB, đĩa DVD lên đến 17 GB).

– Tuy nhiên đĩa mềm vẫn cần thiết trong một số trường hợp cần sửa chữa các máy tính đời cũ: một số thao tác nâng cấp BIOS bắt buộc vẫn phải dùng đến nó

 

 

 

 

 

Google Galaxy Nexus màu trắng sắp ra mắt

Ngoài màu trắng trang nhã, smartphone chạy hệ điều hành Android 4.0 đầu tiên còn có thêm phiên bản tích hợp bộ nhớ trong gấp đôi, lên đến 32 GB, cho phép lưu nhiều dữ liệu hơn.

Theo nhiều hãng bán lẻ ở Anh, Galaxy Nexus trắng 16 GB sẽ xuất hiện đầu tháng sau với giá tương đương với bản màu đen là 780 USD.

Giống iPhone, Galaxy Nexus có điểm yếu là thiếu khe cắm thẻ nên không thể mở rộng bộ nhớ. Để khắc phục, Samsung và Google quyết định cho ra mắt model mới hỗ trợ bộ nhớ trong 32 GB. Giá của sản phẩm này là 940 USD.

Galaxy Nexus được phát triển bởi Google và Samsung. Sản phẩm này gây chú ý ở màn hình Super AMOLED 4,65 inch độ phân giải đạt chuẩn HD cho hình ảnh mịn, chip lõi kép tốc độ 1,5 GHz và camera 5 megapixel. Máy dự kiến có mặt ở Việt Nam trong tháng này.

Những ‘gương mặt’ tiêu biểu của dòng ultrabook

Ultrabook là dòng máy tính xách tay mỏng và nhẹ mới xuất hiện vào nửa sau 2011 nhưng đã góp phần khai tử netbook và được đánh giá có tiềm năng lớn trong việc làm giảm sức hút của tablet.

MacBook Air luôn được coi là máy tính siêu mỏng nhưng vẫn đủ hiệu suất để thực hiện gần như mọi tác vụ hàng ngày. Tuy nhiên, không phải ai cũng thích sản phẩm của Apple. Nhờ Intel và các đối tác, người sử dụng hiện có thêm một dòng thiết bị thay thế: ultrabook chạy hệ điều hành Windows.

Ultrabook mỏng và nhẹ như MacBook Air.

Ultrabook nhẹ hơn, mỏng hơn và hoạt động nhanh hơn những laptop siêu di động (ultraportable) xuất hiện trước đó. Chúng có độ dày chưa đến 20 mm với mức giá từ 800 USD đến 1.600 USD, không dùng chất liệu nhựa giá rẻ mà chuyển sang vỏ nhôm và hợp kim magne. Đa số được trang bị ổ lưu trữ thể rắn SSD chiếm ít diện tích và tốc độ phản ứng, truyền tải dữ liệu nhanh hơn. Khi mở máy, ultrabook sẽ chuyển từ chế độ hibernate (tạm ngừng) sang chế độ sẵn sàng hoạt động chỉ trong vài giây.

Do Intel nắm giữ bản quyền thương hiệu “ultrabook”, hãng này không dễ dãi trong việc cho phép các nhà sản xuất gắn mác lên bất cứ laptop mảnh mai nào. Để đạt được “chứng chỉ”, laptop cần phải đạt 5 tiêu chí:

Khởi động nhanh: Thời gian khởi động từ chế độ hibernate không quá 7 giây.
Thời lượng pin: Với mỗi lần sạc đầy, pin phải hoạt động liên tục ít nhất 5 tiếng.
Độ mỏng: Ultrabook cần mỏng dưới 21 mm.
Bảo mật: Laptop phải hỗ trợ công nghệ Intel Anti-Theft and Identity Protection.
Vi xử lý: Ultrabook chỉ được phép dùng chip của Intel.

Tuy nhiên, cũng giống MacBook Air, ultrabook sẽ có một số hạn chế như hầu hết không tích hợp ổ quang và người sử dụng sẽ phải mua ổ DVD hoặc Blu-ray cắm ngoài qua cổng USB. Chúng có ít cổng kết nối hơn hoặc ở dạng thu nhỏ (như Mini HDMI, Mini DisplayPort…).

Tạp chí PC World (Mỹ) đã dùng thử và đánh giá 4 phiên bản ultrabook mới được bán trên thị trường:

Acer Aspire S3-951: Ultrabook cơ bản

Aspire S3 có giá tương đối hợp lý (900 USD) và trông đẹp mắt. Sản phẩm dùng chip Core i5 tốc độ 1,6 GHz và có thể tăng xung nhịp lên 2,3 GHz qua công nghệ Turbo, RAM 4 GB, ổ SSD dung lượng 20 GB và ổ cứng 320 GB. Thời lượng pin đạt mức tiêu chuẩn (5 tiếng). Màn hình độ phân giải 1.366 x 768 pixel sáng và rực rỡ. Tuy nhiên, do dùng đồ họa tích hợp (giống như nhiều ultrabook khác), Aspire S3 không phải cỗ máy phù hợp để chơi game. Bên cạnh đó, âm thanh không tốt dù được hỗ trợ công nghệ Dolby Home Theater.

Asus Zenbook UX31E: Bóng bảy và tinh tế

UX31E thu hút ngay từ cái nhìn đầu tiên nhờ lớp vỏ nhôm được chau chuốt tinh tế. Với thiết kế đẹp, chip Core i5, Bluetooth 4.0, USB 3.0 và mức giá 1.100 USD, đây gần như là một ultrabook hoàn hảo và được đánh giá rất cao, trừ việc bàn di chuột touchpad khá tệ và màn hình hơi bị ám xanh (dù có độ phân giải cao 1.600 x 900 pixel và sắc nét).

Lenovo IdeaPad U300s: Mỏng và sang trọng

U300s thể hiện ưu thế về cấu hình, kiểu dáng sang trọng, hút mắt, bàn phím và bàn di chuột ấn tượng. Đây là phiên bản được nhiều người yêu thích nhất cho đến khi họ nghe tới giá 1.600 USD (mức giá thể hiện sự đắt đỏ của ổ SSD dung lượng lớn 256 GB trong máy). Sử dụng chip Core i7, RAM 4 GB nhưng trong thử nghiệm của PC World, U300s lại thua Zenbook UX31E về hiệu suất.

Toshiba Portege Z835: Nhẹ và năng lực trung bình

Portege Z835 là ultrabook nhẹ nhất (chỉ hơn 1 kg), cổng kết nối phong phú và giá cũng chỉ 800 USD. Tuy nhiên, sản phẩm chỉ được trang bị chip Core i3 tốc độ 1,4 GHz, RAM 4 GB và ổ SSD 128 GB (Toshiba cung cấp phiên bản với chip Core i7 nhưng giá sẽ vọt lên 1.500 USD và vẫn chỉ có ổ 128 GB). Tuy hiệu suất không cao như các ultrabook khác, Z835 vẫn là lựa chọn hấp dẫn với những người chỉ có nhu cầu sử dụng cơ bản

 

Laptop ‘độc’ dòng ThinkPad dùng 2 chip, 2 hệ điều hành

Công ty Lenovo cho ra mắt máy tính xách tay ThinkPad X1 Hybrid với thiết kế siêu mỏng, tích hợp hai bộ vi xử lý Intel Ivy và ARM cho khả năng khởi động nhanh cùng thời lượng pin lâu.

Điểm độc đáo của X1 Hybrid là bo mạch chủ được gắn thêm chip lõi kép Qualcomm Snapdragon (giống trên các smartphone HTC hay Sony Ericsson) giúp chạy được hệ điều hành Android. Khi đó, người dùng có thể nghe nhạc, lướt web, chỉnh sửa ảnh, chạy video HD, tải ứng dụng từ market và tùy chỉnh widget ở trên 3 màn hình chủ. Khi hoạt động với nền tảng di động, laptop của Lenovo cho thời gian khởi động chỉ 2 giây, thời lượng pin 10 tiếng liên tục.

Nếu người dùng muốn chạy các chương trình phức tạp hơn có thể chuyển sang Microsoft Windows. Lúc đó, X1 Hybrid sẽ dùng chip sắp ra mắt của Intel mang tên Ivy cho khả năng xử lý đồ họa tích hợp nhanh hơn 4 lần so với thế hệ trước.

Laptop X1 Hybrid mỏng 15 mm, nặng 1,67 kg, màn hình 13,3 inch được bảo vệ bởi lớp kính siêu bền Gorilla Glass và khả nặng sạc đầy 80% trong 30 phút.

Máy sẽ được bán ra vào quý II năm nay. Đại diện Lenovo Việt Nam cho biết sản phẩm sẽ có giá dự kiến tầm 50 triệu đồng khi được phân phối trong nước.

Ngoài laptop trên, Lenovo còn giới thiệu ultrabook ThinkPad T430u dày 19 mm, nặng 1,67 kg, hỗ trợ card đồ họa rời Nvidia cùng thỏi pin cho phép chạy liên tục trong 6 tiếng. Sản phẩm có giá khởi điểm 850 USD và được bán vào quý III.